Chưa được phân loại

Bình Ngô đại cáo Nguyễn Trãi

Bình Ngô đại cáo là một luận văn chính trị tổng kết chặt chẽ, súc tích- về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, dựa trên tư tưởng yêu nước thiết tha và sự nhận thức sâu sắc, mới mẻ về nhân dân và dân tộc. Bao trùm bài cáo là niềm tự hào vô biên trước thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến, của khí phách của dân tộc Việt Nam

Vua Lê Thánh Tông đã từng đề cao: “Ức Trai tâm thượng quang Khuê Tảo”. Trong suốt bao năm qua, Nguyễn Trãi được nhớ tới, đánh giá như một nhà văn, nhà thơ vĩ đại của non sông Việt Nam, một nhà tư tưởng, một nhà chính trị đại tài của dân tộc Việt Nam thế kỉ XV. Các tác phẩm là sự kết hợp hài hòa của tư tưởng chính nghĩa, lòng yêu nước với lập luận sắc sảo, chặt chẽ, giọng văn hùng hồn, đầy tính thuyết phục với tư tưởng lấy dân làm gốc. Một trong số tác phẩm của ông thể hiện rõ điều này là tác phẩm Bình Ngô đại cáo

Tác phẩm ra đời khi Lê Lợi lên ngôi Hoàng Đế đặt tên hiệu là Thuận Thiên (hợp lòng trời) và cử Nguyễn Trãi soạn bài cáo để tuyên bố cho toàn dân biết cuộc kháng chiến chống giặc Minh đã thắng lợi rực rỡ, đất nước ta chuyển sang một giai đoạn xây dựng hòa bình. Bình Ngô đại cáo là một luận văn chính trị tổng kết chặt chẽ, súc tích- về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, dựa trên tư tưởng yêu nước thiết tha và sự nhận thức sâu sắc, mới mẻ về nhân dân và dân tộc. Bao trùm bài cáo là niềm tự hào vô biên trước thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến, của khí phách của dân tộc Việt Nam:

Đại thiên hành hóa hoàng thượng nhược viết: 

Cái văn: 
Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân, 
Điếu phạt chi sư mạc tiên khử bạo. 
Duy, ngã Đại Việt chi quốc, 
Thực vi văn hiến chi bang. 
Sơn xuyên chi phong vực ký thù, 
Nam bắc chi phong tục diệc dị. 
Tự Triệu, Đinh, Lý, Trần chi triệu tạo ngã quốc, 
Dữ Hán, Đường, Tống, Nguyên nhi các đế nhất phương. 
Tuy cường nhược thì hữu bất đồng, 
Nhi hào kiệt thế vị thường phạp. 
Cố Lưu Cung tham công dĩ thủ bại, 
Nhi Triệu Tiết hiếu đại dĩ xúc vong. 
Toa Đô ký cầm ư Hàm Tử quan, 
Ô Mã hựu ế ư Bạch Đằng hải. 
Kê chư vãng cổ, 
Quyết hữu minh trưng. 
Khoảnh nhân Hồ chính chi phiền hà. 
Chí sử nhân tâm chi oán bạn. 
Cuồng Minh tứ khích, nhân dĩ độc ngã dân; 
Ác đảng hoài gian, cánh dĩ mại ngã quốc. 
Hân thương sinh ư ngược diệm, 
Hãm xích tử ư hoạ khanh. 
Khi thiên võng dân, quỷ kế cái thiên vạn trạng; 
Liên binh kết hấn nẫm ác đãi nhị thập niên. 
Bại nghĩa thương nhân, càn khôn kỷ hồ dục tức; 
Trọng khoa hậu liễm, sơn trạch mi hữu kiết di. 
Khai kim trường tái mạo lam chướng nhi phủ sơn đào sa, 
Thái minh châu tắc xúc giao long nhi căng yêu thộn hải. 
Nhiễu dân thiết huyền lộc chi hãm tịnh, 
Điển vật chức thuý cầm chi võng la. 
Côn trùng thảo mộc giai bất đắc dĩ toại kỳ sinh, 
Quan quả điên liên câu bất hoạch dĩ an kỳ sở. 
Tuấn sinh linh chi huyết dĩ nhuận kiệt hiệt chi vẫn nha; 
Cực thổ mộc chi công dĩ sùng công tư chi giải vũ. 
Châu lý chi chinh dao trọng khốn, 
Lư diêm chi trữ trục giai không. 
Quyết Đông Hải chi thuỷ bất túc dĩ trạc kỳ ô, 
Khánh Nam Sơn chi trúc bất túc dĩ thư kỳ ác. 
Thần dân chi sở cộng phẫn, 
Thiên địa chi sở bất dung. 

Dư: 
Phấn tích Lam Sơn, 
Thê thân hoang dã. 
Niệm thế thù khởi khả cộng đới, 
Thệ nghịch tặc nan dữ câu sinh. 
Thống tâm tật thủ giả thuỳ thập dư niên, 
Thường đảm ngoạ tân giả cái phi nhất nhật. 
Phát phẫn vong thực, mỗi nghiên đàm thao lược chi thư, 
Tức cổ nghiệm kim, tế suy cứu hưng vong chi lý. 
Đồ hồi chi chí, 
Ngộ mị bất vong. 
Đương nghĩa kỳ sơ khởi chi thì, 
Chính tặc thế phương trương chi nhật. 

Nại dĩ: 
Nhân tài thu diệp, 
Tuấn kiệt thần tinh. 
Bôn tẩu tiên hậu giả ký phạp kỳ nhân, 
Mưu mô duy ác giả hựu quả kỳ trợ. 
Đặc dĩ cứu dân chi niệm, mỗi uất uất nhi dục đông; 
Cố ư đãi hiền chi xa, thường cấp cấp dĩ hư tả. 

Nhiên kỳ: 
Đắc nhân chi hiệu mang nhược vọng dương, 
Do kỷ chi thành thậm ư chửng nịch. 
Phẫn hung đồ chi vị diệt, 
Niệm quốc bộ chi tao truân. 
Linh Sơn chi thực tận kiêm tuần, 
Khôi Huyện chi chúng vô nhất lữ. 
Cái thiên dục khốn ngã dĩ giáng quyết nhiệm, 
Cố dữ ích lệ chí dĩ tế vu nan. 
Yết can vi kỳ, manh lệ chi đồ tứ tập; 
Đầu giao hưởng sĩ, phụ tử chi binh nhất tâm. 
Dĩ nhược chế cường, hoặc công nhân chi bất bị; 
Dĩ quả địch chúng thường thiết phục dĩ xuất kỳ. 

Tốt năng: 
Dĩ đại nghĩa nhi thắng hung tàn, 
Dĩ chí nhân nhi dị cường bạo. 
Bồ Đằng chi đình khu điện xế, 
Trà Lân chi trúc phá hôi phi. 
Sĩ khí dĩ chi ích tăng, 
Quân thanh dĩ chi đại chấn. 
Trần Trí, Sơn Thọ văn phong nhi sỉ phách, 
Lý An, Phương Chính giả tức dĩ thâu sinh. 
Thừa thắng trường khu, Tây Kinh ký vị ngã hữu; 
Tuyển binh tiến thủ, Đông Đô tận phục cựu cương. 
Ninh Kiều chi huyết thành xuyên, lưu tinh vạn lý; 
Tốt Động chi thi tích dã, di xú thiên niên. 
Trần Hiệp tặc chi phúc tâm, ký kiêu kỳ thủ; 
Lý Lượng tặc chi gian đố, hựu bạo quyết thi. 
Vương Thông lý loạn nhi phần giả ích phần, 
Mã Anh cứu đấu nhi nộ giả ích nộ. 
Bỉ trí cùng nhi lực tận, thúc thủ đãi vong; 
Ngã mưu phạt nhi tâm công, bất chiến tự khuất. 
Vị bỉ tất dị tâm nhi cải lự, 
Khởi ý phục tác nghiệt dĩ tốc cô. 
Chấp nhất kỷ chi kiến dĩ giá họa ư tha nhân, 
Tham nhất thì chi công dĩ di tiếu ư thiên hạ. 
Toại linh Tuyên Đức chi giảo đồng, độc binh vô yếm; 
Nhưng mệnh Thạnh Thăng chi nọa tướng, dĩ du cứu phần. 
Đinh vị cửu nguyệt Liễu Thăng toại dẫn binh do Khâu Ôn nhi tiến, 
Nản niên thập nguyệt Mộc Thạnh hựu phân đồ tự Vân Nam nhi lai. 
Dư tiền ký tuyển binh tái hiểm dĩ tồi kỳ phong, 
Dư hậu tái điều binh tiệt lộ dĩ đoạn kỳ thực. 
Bản nguyệt thập bát nhật Liễu Thăng vị ngã quân sở công, kế truỵ ư Chi Lăng chi dã; 
Bản nguyệt nhị thập nhật Liễu Thăng hựu vị ngã quân sở bại, thân tử ư Mã An chi sơn. 
Nhị thập ngũ nhật Bảo Định bá Lương Minh trận hãm nhi táng khu, 
Nhị thập bát nhật Thượng thư Lý Khánh kế cùng nhi vẫn thủ. 
Ngã toại nghênh nhận nhi giải, 
Bỉ tự đảo qua tương công. 
Kế nhi tứ diện thiêm binh dĩ bao vi, 
Kỳ dĩ thập nguyệt trung tuần nhi điễn diệt. 
Viên tuyển tì hưu chi sĩ, 
Thân mệnh trảo nha chi thần. 
Ẩm tượng nhi hà thuỷ càn, 
Ma đao nhi sơn thạch khuyết. 
Nhất cổ nhi kình khô ngạc đoạn, 
Tái cổ nhi điểu tán quân kinh. 
Quyết hội nghĩ ư băng đê, 
Chấn cương phong ư cảo diệp. 
Đô đốc Thôi Tụ tất hành nhi tống khoản, 
Thượng thư Hoàng Phúc diện phọc dĩ tựu cầm. 
Cương thi tái Lượng Giang Lượng Sơn chi đồ, 
Chiến huyết xích Xương Giang Bình Than chi thủy. 
Phong vân vị chi biến sắc, 
Nhật nguyệt thảm dĩ vô quang. 
Kỳ Vân Nam binh vị ngã quân sở ách ư Lê Hoa, tự đỗng nghi hư hạt nhi tiên dĩ phá phủ; 
Kỳ Mộc Thạnh chúng văn Thăng quân sở bại ư Cần Trạm, toại lận tạ bôn hội nhi cận đắc thoát thân. 
Lãnh Câu chi huyết chử phiếu, giang thủy vị chi ô yết; 
Đan Xá chi thi sơn tích, dã thảo vị chi ân hồng. 
Lưỡng lộ cứu binh ký bất toàn chủng nhi câu bại, 
Các thành cùng khấu diệc tướng giải giáp dĩ xuất hàng. 
Tặc thủ thành cầm, bỉ ký trạo ngạ hổ khất liên chi vĩ; 
Thần võ bất sát, dư diệc thể thượng đế hiếu sinh chi tâm. 
Tham tướng Phương Chính, Nội quan Mã Kỳ, tiên cấp hạm ngũ bách dư sưu, ký độ hải nhi do thả hồn phi phách tán; 
Tổng binh Vương Thông, Tham chính Mã Anh, hựu cấp mã sổ thiên dư thất, dĩ hoàn quốc nhi ích tự cổ lật tâm kinh. 
Bỉ ký uý tử tham sinh, nhi tu hảo hữu thành; 
Dư dĩ toàn quân vi thượng, nhi dục dân chi đắc tức. 
Phi duy mưu kế chi cực kỳ thâm viễn, 
Cái diệc cổ kim chi sở vị kiến văn. 
Xã tắc dĩ chi điện an, 
Sơn xuyên dĩ chi cải quan. 
Càn khôn ký bĩ nhi phục thái, 
Nhật nguyệt ký hối nhi phục minh. 
Vu dĩ khai vạn thế thái bình chi cơ, 
Vu dĩ tuyết thiên địa vô cùng chi sỉ. 
Thị do thiên địa tổ tông chi linh hữu, 
Dĩ mặc tương âm hữu nhi trí nhiên dã. 

Ô hô! 
Nhất nhung đại định, 
Hất thành vô cạnh chi công; 
Tứ hải vĩnh thanh, 
Đản bố duy tân chi cáo. 

Bá cáo hà nhĩ, 
Hàm sử văn tri.

Bản dịch Của Ngô Tất Tố

Thay trời hành hoá, hoàng thượng truyền rằng. 

Từng nghe: 
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, 
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo; 
Như nước Đại Việt ta từ trước, 
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu, 
Núi sông bờ cõi đã chia, 
Phong tục Bắc Nam cũng khác; 
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập 
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương; 
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, 
Song hào kiệt thời nào cũng có. 

Cho nên: 
Lưu Cung tham công nên thất bại; 
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong; 
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô 
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã 
Việc xưa xem xét, chứng cứ còn ghi. 

Vừa rồi: 
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà 
Để trong nước lòng dân oán hận 
Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ 
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh 
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn 
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ 
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế 
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm 
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời. 
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi. 
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng. 
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc. 
Vét sản vật, bắt dò chim trả, chốn chốn lưới chăng. 
Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt. 
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ, 
Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng. 
Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán, 
Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa? 
Nặng nề những nổi phu phen 
Tan tác cả nghề canh cửi. 
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội, 
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi! 
Lẽ nào trời đất dung tha? Ai bảo thần dân chịu được? 

Ta đây: 
Núi Lam sơn dấy nghĩa 
Chốn hoang dã nương mình 
Ngẫm thù lớn há đội trời chung 
Căm giặc nước thề không cùng sống 
Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời 
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối. 
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh, 
Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ. 
Những trằn trọc trong cơn mộng mị, 
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi 
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên, 
Chính lúc quân thù đang mạnh. 

Lại ngặt vì: 
Tuấn kiệt như sao buổi sớm, 
Nhân tài như lá mùa thu, 
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đở đần, 
Nơi duy ác hiếm người bàn bạc, 
Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về đông, 
Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chắm còn dành phía tả. 

Thế mà: 
Trông người, người càng vắng bóng, mịt mù như nhìn chốn bể khơi. 
Tự ta, ta phải dốc lòng, vội vã hơn cứu người chết đuối. 
Phần vì giận quân thù ngang dọc, 
Phần vì lo vận nước khó khăn, 
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần, 
Lúc Khôi Huyện quân không một đội. 
Trời thử lòng trao cho mệnh lớn 
Ta gắng trí khắc phục gian nan. 
Nhân dân bốn cỏi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới 
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào. 
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh, 
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều. 

Trọn hay: 
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, 
Lấy chí nhân để thay cường bạo. 
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật, 
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay. 
Sĩ khí đã hăng 
Quân thanh càng mạnh. 
Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía, 
Lý An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân. 
Thừa thắng đuổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại, 
Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về. 
Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm 
Tốt Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm. 
Phúc tâm quân giặc: Trần Hiệp đã phải bêu đầu 
Mọt gian kẻ thù: Lý Lượng cũng đành bỏ mạng. 
Vương Thông gỡ thế nguy, mà đám lửa cháy lại càng cháy 
Mã Anh cứu trận đánh mà quân ta hăng lại càng hăng. 
Bó tay để đợi bại vong, giặc đã trí cùng lực kiệt, 
Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta đây mưu phạt tâm công. 
Ngờ đâu vẫn đương mưu tính lại còn chuốc tội gây oan. 
Giữ ý kiến một người, gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác, 
Tham công danh một lúc, để cười cho tất cả thế gian. 

Bởi thế: 
Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng 
Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy 
Đinh mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại 
Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang. 
Ta trước đã điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong 
Sau lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương thực 
Ngày mười tháng tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế 
Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu 
Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong 
Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn. 
Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá 
Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau 
Lại thêm quân bốn mặt vây thành 
Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc 
Sĩ tốt kén người hùng hổ 
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh 
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn 
Voi uống nước, nước sông phải cạn. 
Đánh một trận, sạch không kình ngạc 
Đánh hai trận tan tác chim muông. 
Cơn gió to trút sạch lá khô, 
Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ. 
Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội, 
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng. 
Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường 
Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước 
Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi, 
Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ 
Bị ta chặn ở Lê Hoa, quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật! 
Nghe Thăng thua ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân. 
Suối Lãnh Câu, máu chảy trôi chày, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc 
Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đầm đìa máu đen. 
Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp, 
Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng 
Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng 
Thần vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh 
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc, 
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run. 
Họ đã tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng 
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức. 
Chẳng những mưu kế kì diệu 
Cũng là chưa thấy xưa nay 
Xã tắc từ đây vững bền 
Giang sơn từ đây đổi mới 
Càn khôn bĩ rồi lại thái 
Nhật nguyệt hối rồi lại minh 
Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu 
Muôn thuở nền thái bình vững chắc 
Âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng đã lặng thầm phù trợ; 

Than ôi! 
Một cỗ nhung y chiến thắng, 
Nên công oanh liệt ngàn năm 
Bốn phương biển cả thanh bình, 
Ban chiếu duy tân khắp chốn. 

Xa gần bá cáo, 
Ai nấy đều hay.

Bình Ngô đại cáo là một trong những tác phẩm chính luận xuất sắc nhất của Nguyễn Trãi, áng “thiên cổ hùng văn” của văn học nước nhà, “bản tuyên ngôn độc lập” có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với lịch sử dân tộc.Giới nghiên cứu đánh giá, Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo không chỉ tuyên bố độc lập, mà còn khẳng định sự bình đẳng của Đại Việt với Trung Quốc trong lịch sử từ trước đến nay và thể hiện nhiều ý tưởng về sự công bằng, vai trò của người dân trong lịch sử và cách giành chiến thắng của quân khởi nghĩa Lam Sơn. Ngoài ra, Nguyễn Trãi sử dụng Bình Ngô đại cáo để chứng minh tính chính nghĩa của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và trả lời câu hỏi tại sao quân khởi nghĩa Lam Sơn có thể chiến thắng quân đội nhà Minh đó là chính sách dựa vào nhân dân.

Tags
Show More

Related Articles

Trả lời

Close