KIẾN THỨCLớp 6

Nước Âu Lạc

Nội dung kiến thức cơ bản Lịch sử 6 Bài 14-15 Nước Âu Lạc

Sau khi cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tần thắng lợi, năm 207 TCN, Thục Phán buộc vua Hùng nhường ngôi cho mình và hợp nhất hai vùng đất của của người Tây Âu – Lạc Việt, lập ra nước Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê (Vùng Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội)

Lịch sử 6 Bài 14-15 Nước Âu Lạc

1. Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tần đã diễn ra như thế nào?

Vào cuối thế kỉ III TCN – đời vua Hùng thứ 18, đất nước Văn Lang không còn yên bình như trước nữa. “Vua không lo sửa sang võ bị, chỉ ham ăn uống, vui chơi. Lụt lội xảy ra, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn”.

Giữa lúc đó, ở phương Bắc, nhà Tần thông nhất Trung nguyên. Năm 218 TCN, vua Tần sai quân đánh xuống phương Nam để mở rộng bờ cõi. Sau 4 năm chinh chiến, quân Tần kéo đến vùng Bắc Văn Lang, nơi người Lạc Việt cùng sống với người Tây Âu (hay Âu Việt), vốn có quan hệ gần gũi với nhau từ lâu đời. Cuộc kháng chiến bùng nổ. Người thủ lĩnh Tây Âu bị giết nhưng nhân dân Tây Âu – Lạc Việt không chịu đầu hàng, sử cũ Trung Quốc chép: “Người Việt trốn vào rừng, không ai chịu để quân Tần bắt… Rồi họ đặt người kiệt tuấn lên làm tướng, ngày ở yên, đêm đến ra đánh quân Tần”.

Người kiệt tuấn đó là Thục Phán.

Cuộc chiến đấu kiên cường, quyết liệt của cư dân Tây Âu – Lạc Việt đã làm quân Tần như “đóng binh ở đất vô dụng, tiến không được, thoái không xong”. Sáu năm sau, “người Việt đã đại phá quân Tần, giết được Hiệu úy Đồ Thư”. Nhà Tần phải hạ lệnh bãi binh.

⇒Tóm tắt những ý chính cần nhớ

 Cuộc kháng chiến chống quần Tần xâm lược .
* Hoàn cảnh :
Vào cuối thế kỷ III TCN , thời vua Hùng Vương thứ 18 , nước Văn Lang không còn yên bình , vua chỉ ham vui chơi, lụt lội xảy ra,nhân dân gặp nhiều khó khăn, nhà Tần đe dọa xâm lược .

* Diễn biến cuộc kháng chiến chống quần Tần xâm lược :
– Năm 218 TCN, quân Tần đánh xuống phương Nam ; bốn năm sau , quân Tần chiếm vùng Bắc Văn Lang ( nơi cư trú của người Lạc Việt và Tây Âu).
– Thục Phán lãnh đạo nhân dân tổ chức kháng chiến lâu dài ,đánh du kích : ngày trốn vào rừng , đêm đến ra đánh giặc , sáu năm sau giết được Hiệu úy Đồ Thư , nhà Tần bãi binh .

* Nguyên nhân thắng lợi :tinh thần đoàn kết và chiến đấu kiên cường của người Tây Âu và Lạc Việt ; tài chỉ huy của Thục Phán.

2. Nước Âu Lạc ra đời

Kháng chiến thắng lợi vẻ vang. Thục Phán, nhân đó, năm 207 TCN đã buộc vua Hùng phải nhường ngôi cho mình. Hai vùng đất cũ của người Tây Âu và Lạc Việt được hợp thành một nước mới có tên là Âu Lạc.

Thục Phán tự xưng là An Dương Vương, tổ chức lại nhà nước, đóng đô ở Phong Khê (nay là vùng cổ Loa, huyện Đông Anh – Hà Nội).

Bây giờ Phong Khê đã là một vùng đất đông dân, nằm ở trung tâm đất nước, vừa gần sông Hồng, vừa có sông Hoàng chảy qua. Sông Hoàng nhỏ nhưng lại là đường nối với sông Hồng ở mạn Nam và nối với sông cầu ở mạn Bắc.

Bộ máy nhà nước thời An Dương Vương không có gì thay đổi so với trước. Đứng đầu nhà nước là An Dương Vương, nắm giữ mọi quyền hành chính. Giúp việc cho vua có các Lạc hầu, Lạc tướng, cả nước được chia thành nhiều bộ, do Lạc tướng đứng đầu. Các làng, chạ vẫn do Bồ chính cai quản. Tuy nhiên, sau nhiều thế kỉ độc lập thời Hùng Vương, quyền hành của nhà nước đã cao hơn và chặt chẽ hơn trước. Vua có quyền thế hơn trong việc trị nước.

⇒Tóm tắt những ý chính cần nhớ

Nước Âu Lạc ra đời:
– Sau khi đánh thắng quân Tần, năm 207 TCN Thục Phán lên ngôi vua xưng là An Dương Vương , đóng đô ở Phong Khê , và hợp nhất Tây Âu và Lạc Việt thành nước Âu Lạc .
– Đứng đầu nhà nước là An Dương Vương , giúp vua có Lạc Hầu và Lạc Tướng .Cả nước chia thành nhiều bộ , do Lạc Tướng đứng đầu , các chiềng chạ vẫn do Bồ Chính cai quản .
– So sánh vơi thời Vua Hùng ; quyền hành của An Dương Vương cao hơn và chặt chẽ hơn thời vua Hùng , đã có luật pháp và quân đội .

3. Đất nước thời Âu Lạc có gì thay đổi?

Sau nhiều thế kỉ phát triển, đất nước cuối thời Hùng Vương và đầu thời Âu Lạc đã có những tiến bộ đáng kể. Trong nông nghiệp, lưỡi cày đồng được cải tiến và được dùng phổ biến hơn. Lúa gạo, khoai, đậu, rau, củ… ngày một nhiều hơn. Chăn nuôi, đánh cá, săn bắn đều phát triển.

Các nghề thủ công như làm đồ gốm, dệt, làm đồ trang sức, đóng thuyền., đều tiến bộ. Ngành xây dựng và luyện kim đặc biệt phát triển. Giáo, mác, mũi tên đồng, rìu đồng, cuốc sắt, rìu sắt được sản xuất ngày càng nhiều.

Dân số tăng lên. Sự phân biệt giữa tầng lớp thống trị và nhân dân cũng sâu sắc hơn.

⇒Tóm tắt những ý chính cần nhớ

Đất nước thời Âu Lạc có những tiên bộ đáng kể :
* Trong nông nghiệp:
-Lưỡi cày đồng được dùng phổ biến , lúa gạo rau củ nhiều hơn.
-Chăn nuôi, đánh cá , săn bắn đều phát triển .
*Nghề thủ công có nhiều tiến bộ như làm đồ gốm,dệt, làm đồ trang sức .
* Đặc biệt phát triển ngành xây dựng và luyện kim như rìu đồng, cuốc sắt , rìu sắt , giáo mác ,mũi tên đồng.
* Xã hội có sự phân biệt giàu nghèo.

4. Thành Cổ Loa và lực lượng quốc phòng

An Dương Vương cho xây dựng ở Phong Khê một khu thành đất lớn mà người sau gọi là Loa thành hay thành Cổ Loa.

Sử cũ chép: “Thành rộng hơn nghìn trượng như hình trôn ốc nên gọi là Loa thành”.

Thành có ba vòng khép kín với tổng chiều dài chu vi khoảng 16.000 m. Chiều cao của thành khoảng từ 5 – 10 m, mặt thành rộng trung bình 10 m, chân thành rộng từ 10 – 20 m.

Các thành đều có hào bao quanh, rộng từ 10 – 30 m. Các hào thông nhau, vừa nối với một đầm lớn (Đầm Cả) ở giữa thành Trung và thành Ngoại, vừa nối với sông Hoàng.

Bên trong thành Nội là những khu nhà ở và làm việc của gia đình An Dương Vương và các Lạc hầu, Lạc tướng.

Cổ Loa còn là một quân thành, ở đây có một lực lượng quân đội lớn gồm bộ binh và thủy binh được trang bị các vũ khí bằng đồng như giáo, rìu chiến, dao găm và đặc biệt là nỏ. Các nhà khảo cổ đã phát hiện được ở phía nam thành (Cầu Vực) một hố mũi tên đồng gồm hàng vạn chiếc. Đầm Cả là nơi tập trung các thuyền chiến vừa luyện tập, vừa sẵn sàng chiến đấu.

⇒Tóm tắt những ý chính cần nhớ

 Thành Cổ Loa và lực lượng quốc phòng :
Để tăng cường phòng thủ và bảo vệ kinh đô mới, An Dương Vương đã cho xây dựng thành Cổ Loa kiên cố , xây dựng quân đội mạnh , trang bị vũ khí nhiều loại .
* Cấu trúc:
+ Thành có 3 vòng khép kín, tổng chiều dài chu vi 16.000m
+ Chiều cao: 5 – 10m
+ Mặt trành rộng trung bình 10m.
+ Chân thành rộng từ 10 – 20m
+ Các thành đều có hào nước (rộng từ 10 – 30m) bao quanh, các hào thông với nhau vừa nối với Đầm Cả, vừa nối với Sông Hoàng, có thể ra Sông Hồng.
+ Bên trong thành nội là nơi ở và làm việc của vua và các Lạc hầu, Lạc tướng.

*Nhận xét :
-Là một công trình kiến trúc to lớn , độc đáo và sáng tạo xây dựng cách đây hơn 2000 năm
-Là một căn cứ quân sự lợi hại , một vị trí phòng thủ kiên cố .
-Thể hiện trình độ phát triển cao của nước Âu Lạc , là biểu tượng của nền văn minh Việt Cổ
5. Nhà nước Âu Lạc sụp đổ trong hoàn cảnh nào?

Đất nước Âu Lạc yên ổn chưa được bao lâu thì xảy ra cuộc xâm lược của Triệu Đà.

Triệu Đà là một tướng của nhà Tần, được giao cai quản các quận giáp phía bắc Âu Lạc (tương ứng với Quảng Đông, Quảng Tây thuộc Trung Quốc ngày nay). Năm 207 TCN, nhân lúc nhà Tần suy yếu, Triệu Đà đã cắt đất ba quận, lập thành nước Nam Việt, sau đó đem quân đi đánh các vùng xung quanh và đánh xuống Âu Lạc. Quân dân Âu Lạc, với vũ khí tốt và tinh thần chiến đấu dũng cảm, đã đánh bại các cuộc tấn công của quân Triệu, giữ vững nền độc lập của đất nước. Triệu Đà, biết không thể đánh bại được quân ta, bèn vờ xin hòa và dùng mưu kế chia rẽ nội bộ nước ta.

Năm 179 TCN, sau khi đã chia rẽ được nội bộ nhà nước Âu Lạc, khiến các tướng giỏi như Cao Lỗ, Nồi Hầu phải bỏ về quê, Triệu Đà lại sai quân đánh Âu Lạc. An Dương Vương do không đề phòng, lại mất hết tướng giỏi, nên bị thất bại nhanh chóng. Âu Lạc rơi vào ách đô hộ của nhà Triệu.

⇒Tóm tắt những ý chính cần nhớ

Sự sụp đổ của nhà nước Âu Lạc :
-Năm 207 TCN Triệu Đà đem quân xâm lược Âu Lạc .Quân dân Âu Lạc với vũ khí tốt , tinh thần chiến đấu dũng cảm, có thành Cổ Loa kiên cố , có quân đội mạnh, có tướng giỏi ,đã đánh bại được quân Triệu Đà , giữ vững được độc lập.
-Năm 179 TCN sau khi chia rẽ nội bộ (tướng giỏi như Cao Lỗ, Nồi Hầu phải bỏ về quê), Triệu Đà dùng mưu tấn công và chiếm được Âu Lạc . Âu Lạc rơi vào ách đô hộ của nhà Triệu.

+ Nguyên nhân thất bại:
– Triệu Đà dùng mọi thủ đoạn: chia rẽ nội bộ, ly gián…
– Chủ quan, mất cảnh giác.

+ Bài học kinh nghiệm :
– Phải tuyệt đối cảnh giác.
– Vua phải tin tưởng trung thần.
– Phải dựa vào dân để đánh giắc, bảo vệ đất nước.

Câu hỏi về nhà nước Âu lạc

1.Tình hình nhà nước Văn Lang như thế nào trước khi bị quân Tần đem quân xâm lược?
Trả lời:

Vào cuối thế kỉ III TCN, đất nước Văn Lang không còn yên bình như trước. Vua không lo sửa sang võ thị, chỉ ham ăn uống, vui chơi. Lụt lội xảy ra, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Nhà nước Văn Lang suy yếu.

2. Khi quân Tần tấn công xâm lược vùng Bắc Văn Lang, những ai trực tiếp đương đầu với quân xâm lược?
Trả lời:

Khi quân Tần tấn công xâm lược vùng Bắc Văn Lang, người Tây Âu và Lạc Việt đã cùng nhau chống lại cuộc tấn công của quân Tần.

3. Cuộc kháng chiến của nhân dân Tây Âu – Lạc Việt chống quân xâm lược Tần đã diễn ra như thế nào?
Trả lời:

– Lợi dụng cơ hội Văn Lang suy yếu, nhà Tần tiến hành xâm lược đất nước Văn Lang của người Tây Âu và Lạc Việt. Nhân dân Tây Âu – Lạc Việt không chịu đầu hàng giặc đã đoàn kết để tự vệ, bầu người giỏi là Thục Phán làm thủ lĩnh cuộc kháng chiến. Họ cùng nhau trốn vào rừng, ban ngày trốn, ban đêm ra đánh giặc.

– Họ đã duy trì cuộc chiến đấu đó trong suốt 6 năm ( 214 TCN – 208 TCN), khiến quân Tần lâm vào tình trạng khốn đốn “tiến thoái lưỡng nan”, phải rút quân. Cuộc kháng chiến chống quân Tần của nhân dân Tây Âu – Lạc Việt hoàn toàn thắng lợi.

4. Em có suy nghĩ gì về tinh thần chiến đấu của người Tây Âu – Lạc Việt?
Trả lời:

Người Tây Âu – Lạc Việt chiến đấu rất dũng cảm, bền bỉ, mưu trí, biết dựa vào địa thế rừng núi, ngày ở yên “ngày ẩn”, đêm đánh quân Tần “đêm hiện”, đánh lâu dài với giặc khiến chúng gặp nhiều khó khăn, chán nản, mất hết ý chí xâm lược nên phải rút quân.

5. Vì sao cuộc kháng chiến chống quân Tần của nhân dân Tây Âu – Lạc Việt thắng lợi?
Trả lời:

Cuộc kháng chiến chống quân Tần của nhân dân Tây Âu – Lạc Việt thắng lợi:

– Tinh thần đoàn kết, chiến đấu dũng cảm, kiên trì của nhân dân Tây Âu – Lạc Việt

– Sự lãnh đạo tài giỏi của Thục Phán với lối đánh du kích lâu dài “ngày ẩn, đêm hiện”

6. Vì sao Thục Phán đặt tên nước là Âu Lạc?
Trả lời:

Sau khi cuộc kháng chiến chống quân Tần thắng lợi, Thục Phán đặt tên nước là Âu Lạc vì:

– Nhân dân Tây Âu – Lạc Việt là hai bộ lạc sống gần nhau, có chung trình độ phát triển kinh tế, văn hóa và họ đã đoàn kết với nhau để chống lại quân Tần bảo vệ lãnh thổ.

– Đồng thời để có sự kết hợp ý nghĩa lớn tên gọi của hai bộ lạc Tây Âu – Lạc Việt nên Thục Phán đặt tên nước là ÂU LẠC.

7. Nhà nước Âu Lạc ra đời trong hoàn cảnh nào?
Trả lời:

– Vào cuối thế kỉ III TCN, nhà nước Văn Lang suy yếu, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Quân Tần đem quân sang xâm lược. Thục Phán đã lãnh đạo nhân dân Tây Âu – Lạc Việt chiến đấu đánh tan quân xâm lược Tần.

– Sau khi cuộc kháng chiến thắng lợi, năm 207 TCN, Thục Phán buộc vua Hùng nhường ngôi cho mình và hợp nhất hai vùng đất của của người Tây Âu – Lạc Việt, lập ra nước Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê (Vùng Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội)

8. Vì sao An Dương Vương chọn Phong Khê làm đất đóng đô?
Trả lời:

An Dương Vương chọn Phong Khê làm đất đóng đô vì đây là vùng đất có vị trí trung tâm đất nước, dân cư đông đúc, gần các con sông lớn, thuận tiện cho việc đi lại.

10. Từ khi nước Văn Lang thành lập cho đến khi nước Âu Lạc ra đời trải qua bao nhiêu thế kỉ?
Trả lời:

Từ khi nước Văn Lang thành lập cho đến khi nước Âu Lạc ra đời trải qua hơn bốn thế kỉ (thế kỉ VII TCN đến năm 207 TCN)

11. Quan sát hình 39 (SGK trang 42), em có nhận xét gì về hình dáng của lưỡi cày đồng Cổ Loa so với trước?
Trả lời:

– Lưỡi cày đồng Cổ Loa được gọi với nhiều tên khác nhau: Lưỡi cày hình trái tim, hình bầu dục, hình lá trầu. Lưỡi cày có độ dài 24,8cm, rộng 18,9cm, có họng để tra cán bằng gỗ (Hoặc bằng tre). Lưỡi cày đồng Cổ Loa không chỉ dùng để cày mà còn có thể sử dụng như lưỡi cuốc hoặc xẻng

12. Sự xuất hiện của lưỡi cày đồng Cổ Loa nói lên điều gì?
Trả lời:

Sự xuất hiện của lưỡi cày đồng Cổ Loa là một biểu hiện tiến bộ lớn trong kĩ thuật chế tác công cụ sản xuất nông nghiệp của cư dân Âu Lạc, góp phần đưa năng suất lao động tăng lên, diện tích nông nghiệp được mở rộng.

13. Em có nhận xét gì về hình dáng của mũi tên đồng Cổ Loa hình 40 (SGK trang 42), so với mũi giáo đồng Đông Sơn?
Trả lời:

Nhìn vào ảnh, chúng ta thấy mũi tên đồng Cổ Loa có kiểu dáng rất độc đáo. Phần lớn các mũi tên dài từ 6-11cm, có hai hay ba ngạnh, nhọn, sắc như hình múi khế, lại có chuôi để cắm vào thân tên bằng tre. Trong số các tên đồng Cổ Loa, có những chiếc ở đầu mũi có lỗ thủng, có lẽ là để buộc thêm mồi lửa làm thành thứ “tên lửa”, “hỏa tiễn” để đánh giặc.

14. Em hãy cho biết nước ta thời Âu Lạc có gì thay đổi?
Trả lời:

– Trong nông nghiệp, lưỡi cày đồng được cải tiến và được dùng phổ biến hơn. Lúa gạo, khoai, đậu, rau củ…ngày một nhiều hơn. Chăn nuôi, đánh cá, săn bắn đều phát triển.

– Các nghề thủ công như làm đồ gốm, dệt, làm đồ trang sức, đóng thuyền….đều tiến bộ. Ngành xây dựng và luyện kim đặc biệt phát triển. Giáo, mác, mũi tên đồng, rìu đồng, cuốc sắt, rìu sắt được sản xuất ngày càng nhiều.

15. Theo em, tại sao nước ta cuối thời Hùng Vương và và đầu thời Âu Lạc lại có sự tiến bộ đáng kể?
Trả lời:

Đất nước cuối thời Hùng Vương và đầu thời Âu Lạc có những tiến bộ đáng kể là do:

– Nghề luyện kim phát triển

– Tinh thần vươn lên, chịu khó, cần cù của nhân dân trong lao động sản xuất và ý thức đấu tranh bảo vệ Tổ quốc.

Sóc bay hi vọng với bài viết  Nước Âu Lạc trên sẽ đem đến cho các em học sinh những kiến thức cơ bản nhất của bài học. Đừng quên theo dõi socbay.net để theo dõi cập nhật nhiều thông tin kiến thức bổ ích nhé.
Tags
Show More

Related Articles

Trả lời

Close